TRẦN CẨM – MỘT BẬC “TlỂN HIÊN” CỦA DAT QUẢNG NGẢI

TRẦN CẨM – MỘT BẬC “TlỂN HIÊN” CỦA DAT QUẢNG NGẢI

TRONG BUỔI ĐẦU, KHI VÙNG ĐẤT QUẢNG NGÃI NGÀY nay hòa nhập vào quốc gia dân tộc Việt Nam, có nhiều người có công mở mang, khai phá, được nhân dân suy tôn là các bậc “tiền hiền” của địa phương. Trần cẩm là một trong các bậc “tiền hiền” ấy.

Trần Cẩm (1545-1640), quê ỏ Thanh Oai, Sơn Tây (nay thuộc Hà Tây). Ông tham gia đội quân “phù Lê diệt Mạc” trong cuộc xung đột Nam – Bắc triều hồi đầu thập kỷ 70 của thê kỷ XVI. Năm 1597, đòi Lê Thê Tông, niên hiệu Quang Hưng thứ 20, Trần cẩm được thăng chức Phụ quốc thượng đôc quân, Quảng Nham bá và nhận lệnh vào Thuận Quảng, giúp cho Nguyễn Hoàng, đương là trấn thủ Thuận Hóa kiêm trấn thủ Quảng Nam.

>>Luyện thi Violympic những mẹo hay

Trần Cẩm ở trong một thê khó xử. Danh nghĩa là được triều đình phái vào giúp họ Nguyễn, nhưng trong thực tế quan hệ giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn ngày càng trở nên căng thẳng và đưa đến cuộc xung đột vũ trang kéo dài từ năm 1627 đến 1672. Trong tình thế ấy, lấy việc lo cho dân làm trọng, Trần cẩm dồn sức lực vào chăm lo phát triển kinh tê – xã hội ở vùng ông cai quản.

>>Luyện thi Violympic toán lớp 6

Lúc mới vào đất Quảng Nam, Trần cẩm được cử giữ chức Tham tướng Cai Phủ, trông coi phủ Tư Nghĩa – một trong ba phủ của trấn Quảng Nam. Phủ Tư Nghĩa lúc bấy giờ gồm 3 huyện: Bình Dương (sau đổi thành Bình Sơn), Nghĩa Giang (sau là Chương Nghĩa) và Mộ Hoa (sau đổi ra Mộ Đức), tức là toàn bộ lãnh thổ tỉnh Quảng Ngãi ngày nay.

Năm Giáp Thìn (1604), đòi Lê Kỉnh Tông, niên hiệu Hoằng Định thứ năm, phủ Tư Nghĩa đổi thành phủ Quảng Nghĩa (như vậy địa danh Quảng Ngãi ra đời vào thời gian Trần Cẩm trấn nhậm vùng đất này).

Năm Đinh Mùi (1607), đời Lê Kỉnh Tông thứ tám, Trần Cấm nhận sắc phong Quảng Nham hầu, Phó đê lãnh phủ Quảng Nghĩa.

Năm Ât Mùi (1625), đòi Lê Thần Tông, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ bảy, có sắc chỉ phong ông làm Chánh khám lý, Quảng Nham hầu phủ Quảng Nghĩa.

Ba sắc chỉ trên (còn lưu ở từ đường họ Trần), đều ghi rõ giao cho ông cai quản phủ Quảng Nghĩa, đặc biệt các tổng, xã, thôn, phường mới lập, huy động các hạng binh dân theo nhân sô mà làm nghĩa vụ vđi triều đình.

Trần Cẩm ngoài việc chăm lo rèn luyện quân đội, giữ yên bò cõi theo lệnh triều đình, đã chăm lo xây dựng đất nước, cải thiện đời sông nhân dân. Trước hết, ông hô hào nhân dân địa phương ra sức khai hoang, phục hóa các đồn điền được xây dựng từ thời Lê Thánh Tông, nay đã bị nưóc lở cát bồi, không thể canh tác được. Ổng tổ chức quân đội thành các lực lượng nòng cốt, đón tiếp nhân dân các nơi khác đến tham gia việc khai hoang, phục hóa. Đe đảm bảo công bằng trong sử dụng ruộng đất khai phá được, Trần Cẩm hướng dẫn việc đo đạc công điền, công thổ, giao ruộng đất cho nhân dân. Ông chăm lo đến kỹ thuật gieo trồng, trưóc hết là chống hạn hán, lũ lụt, vốn thường xuyên xảy ra hàng năm trên vùng đất hẹp, nằm giữa núi và biển này. Kết hợp kinh nghiệm sản xuất của nhân dân các dân tộc bản địa (chủ yếu người Chăm) vói đồng bào Việt từ miền Bắc vào, ông tổ chức đắp bò vùng, bờ thửa, khơi đào kênh mương tưói tiêu nước.

Trần Cẩm trực tiếp xây dựng xã Địa Thi, thuộc huyện Mộ Hoa làm kiểu mẫu cho các nơi noi theo. Ông đã tổ chức khai hoang phục hóa được 3.200 mẫu Trung Bộ (mỗi mẫu Trung Bộ tương đương 5.000m2). Để fcó đủ nưốc tưói cho các cánh đồng ở vùng phía nam sông Vệ, trong đó có cánh đồng Địa Thi rộng lớn, Trần cẩm đã xây dựng một hệ thống dẫn thủy nhập điền lốn, mà đến nay, tuy đã trải qua hơn 4 thê kỷ, dấu vết vẫn còn lưu và ít nhiều có tác dụng.

Nhân dân địa phương lưu truyền rằng, ông đã khai cửa sông Thoa thông vối sông Vệ làm cho việc đi lại và thủy lợi thuận tiện hơn. Còn việc trị thủy sông Thoa, đắp đập Bến Thác, đào kênh mương “tuần”, đắp các đập Phưốc Khánh, Điền Trang vẫn có nhiều chứng tích về công lao của ông. Kết quả của công cuộc khai hoang, phục hóa, xây dựng các công trình thủy lợi dưới thời Trần cẩm cai quản phủ Quảng Nghĩa là những cánh đồng màu mõ của huyện Mộ Đức, là các công trình dẫn thủy nhập điền cho toàn bộ đồng ruộng Địa Thi, cho đồng ruộng Vĩnh Phú, Thiết Trường ở phía nam, đồng ruộng Đôn Lương ỏ phía đông 5 bàu (đầm) nước ở phía bắc tưới cho các cánh đồng Văn Bàn, An Phong và Hoài An cũng là công trình do ông tổ chức đào đắp.

Trần Cẩm còn cai trị nghiêm minh, diệt trừ giặc cưốp, bảo đảm an ninh cho nhân dân yên tâm sinh sông. Nhờ vậy, nhân dân phần nào thoát được cẳnh đói nghèo, trong những ngày đầu khai hoang lập ấp đầy rẫy những khó khăn.

Công đức của Trần cẩm không những được nhân dân địa phương đời đời ca ngợi, con cháu phụng thò, mà các triều đình phong kiến, từ Lê đến Nguyễn, đều có sắc phong. Ngoài 3 sắc phonp *hl’i Ijẻ nêu trên, đồi Khải Định cũng có sắc phong truy – ặng ông là “Tiền khai khẩn dực bảo trung hưng linh thổ còn thần”, sắc thò ở đình làng Thi Phổ (nay là Đức Tân, huyện Mộ Đức) mỗi năm hai lần cúng lễ.

Nhân dân địa phương cũng hết lời ca tụng ông về đức liêm khiết. Cả đòi, ông chăm lo cuộc sông no ấm của nhân dân. Khi về hưu trí, với chức khám lý cai phủ Quảng Nham hầu, Trần cẩm nhanh chóng hòa mình vào cuộc sống của nhân dân, tiếp tục giúp họ cày cấy, tổ chức đòi sống. Ông sống giản dị, sinh hoạt hàng ngày chủ yếu dựa vào phần công điên của xã ấp, không có sản nghiệp gì đáng kể, sống một cuộc đòi thanh bạch.

Hiện nay, mộ ông còn ở Hoài An (xã Đức Chánh, Mộ Đức), nhà thò ỏ Phước Thịnh (xã Đức Thạnh). Miếu mộ ông trải qua nhiều biến thiên của lịch sử và tàn phá của thiên nhiên, song được con cháu, nhân dân trùng tu nên vẫn giữ được vẻ cổ kính, tráng lệ mà tôn nghiêm. Nhà thờ và mộ Trần cẩm còn có nhiều câu đôi chữ Nho, ca ngợi tài đức của ông.

ở nhà thò có câu đối như sau:

“Sanh lương tướng, tử phúc thần, anh linh vạn cổ

Hương tiền hiền, tộc thủy tổ, sùng bái thiên thu”.

Tạm dịch:

“Sông làm lương tướng, chết thành phúc thần, linh thiêng muôn thuở.

Tiên hiền của làng, thủy tổ của họ, cúng tế nghìn thu”.

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *